Nội dung bài viết này được tạo lập với sự hỗ trợ của công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) trên cơ sở toàn văn Thông tư 61/2026/TT-BGDĐT. Bài viết mang tính chất tham khảo, phân tích học thuật và không phải văn bản hướng dẫn chính thức, không thay thế cho ý kiến chuyên môn, ý kiến pháp lý hoặc chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền. Các nhận định về cơ hội, thách thức và phương hướng hành động là suy luận từ nội dung văn bản, cần được rà soát, kiểm chứng và phê duyệt bởi các đơn vị chức năng trước khi sử dụng cho mục đích quản lý, điều hành. Người đọc nên đối chiếu trực tiếp với văn bản gốc.
Thông tư 61/2026/TT-BGDĐT về tài nguyên giáo dục mở: Phân tích ảnh hưởng, cơ hội, thách thức và phương hướng hành động đối với Học viện Kỹ thuật mật mã
Ngày 17/7/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 61/2026/TT-BGDĐT quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong hoạt động giáo dục đại học, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026. Văn bản này lần đầu tiên thiết lập một hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho tài nguyên giáo dục mở (Open Educational Resources – OER) ở bậc đại học Việt Nam, đồng thời đặt ra những yêu cầu tuân thủ cụ thể đối với từng cơ sở đào tạo. Đối với Học viện Kỹ thuật mật mã – một cơ sở giáo dục đại học có tính đặc thù cao về bảo mật và an ninh – Thông tư mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra những bài toán quản trị không nhỏ.
1. Tổng quan nội dung Thông tư 61/2026/TT-BGDĐT
Thông tư gồm 5 chương, 14 điều, do Thứ trưởng Lê Quân ký ban hành, được xây dựng trên căn cứ Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15, Luật Giáo dục (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 123/2025/QH15) và Nghị định số 279/2026/NĐ-CP.
Có thể khái quát nội dung Thông tư qua bốn trụ cột:
| Trụ cột | Điều khoản | Nội dung cốt lõi |
|---|---|---|
| Khái niệm & nguyên tắc | Điều 3, 4 | Định nghĩa tài nguyên giáo dục mở, giấy phép mở, quyền truy cập mở và 5 quyền cơ bản (giữ lại, sử dụng lại, sửa đổi, kết hợp lại, phân phối lại); nguyên tắc ưu tiên tài nguyên tiếng Việt, bảo đảm quốc phòng – an ninh, an toàn thông tin. |
| Điều cấm | Điều 5 | Năm nhóm hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có việc công bố, chia sẻ tài nguyên chứa nội dung thuộc bí mật nhà nước hoặc liên quan quốc phòng, an ninh quốc gia khi chưa được phép. |
| Yêu cầu & quy trình | Điều 6, 7 | Sáu nhóm yêu cầu về chất lượng, giấy phép, siêu dữ liệu, kỹ thuật; trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở đào tạo trong việc ban hành quy định nội bộ về thẩm định, phê duyệt và sử dụng. |
| Trách nhiệm tổ chức | Điều 8, 9, 11, 12 | Quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân; trách nhiệm phát triển nền tảng, đầu tư hạ tầng, bồi dưỡng năng lực của cơ sở đào tạo; trách nhiệm xây dựng Cổng truy cập tài nguyên giáo dục mở quốc gia và chuẩn dữ liệu đặc tả của Bộ GD&ĐT. |
Điểm đáng chú ý về mặt chính sách nằm ở khoản 6 Điều 4: các học liệu, giáo trình, bài giảng, khóa học trực tuyến và sản phẩm học thuật được tạo lập toàn bộ hoặc chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước sẽ được ưu tiên công bố theo giấy phép mở phù hợp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc thuộc phạm vi hạn chế công bố. Đây là điều khoản có tác động trực tiếp và rộng nhất đến các cơ sở đào tạo công lập.
2. Đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với Học viện Kỹ thuật mật mã
Là cơ sở giáo dục đại học công lập có hoạt động đào tạo trình độ đại học và sau đại học, Học viện Kỹ thuật mật mã thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư theo Điều 2. Đồng thời, theo Điều 14, giám đốc học viện là một trong các chủ thể chịu trách nhiệm thi hành. Như vậy, Thông tư ảnh hưởng trực tiếp và bắt buộc, không phải văn bản mang tính khuyến nghị.
Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng phân bố không đồng đều giữa các khối nội dung đào tạo của Học viện. Có thể phân thành ba lớp:
- Lớp mở rộng (ảnh hưởng tích cực rõ rệt): các học phần đại cương và cơ sở ngành – toán học, xác suất – thống kê, đại số, cấu trúc dữ liệu và giải thuật, mạng máy tính, hệ điều hành, lập trình, ngoại ngữ. Đây là khối chiếm tỷ trọng lớn về khối lượng tín chỉ và hoàn toàn có thể khai thác, chia sẻ theo cơ chế mở.
- Lớp cân nhắc (ảnh hưởng hai chiều): các học phần chuyên ngành ở mức kiến thức phổ quát – cơ sở lý thuyết mật mã, an toàn thông tin, an ninh mạng, kiểm thử xâm nhập ở mức nguyên lý. Có thể khai thác tài nguyên bên ngoài, nhưng việc công bố ra ngoài cần rà soát chặt chẽ.
- Lớp hạn chế (ảnh hưởng chủ yếu là nghĩa vụ tuân thủ điều cấm): nội dung nghiệp vụ cơ yếu, thuật toán và giải pháp mật mã ứng dụng, tài liệu phục vụ nhiệm vụ đặc thù. Với khối này, Điều 5 khoản 5 của Thông tư đóng vai trò "van an toàn" – Học viện không có nghĩa vụ và không được phép mở.
Nhận định tổng quát: Thông tư không tạo ra xung đột pháp lý với đặc thù bảo mật của Học viện, bởi chính văn bản đã dự liệu ngoại lệ tại khoản 4 Điều 4, khoản 5 Điều 5 và phần loại trừ của khoản 6 Điều 4. Vấn đề nằm ở chỗ Học viện phải chủ động xây dựng bộ tiêu chí phân loại để vận dụng đúng các ngoại lệ này, thay vì áp dụng một cách cực đoan theo hướng "mở hết" hoặc "đóng hết".
3. Các cơ hội
3.1. Bổ sung và cập nhật nguồn học liệu với chi phí thấp
Cơ chế giấy phép mở cho phép Học viện hợp pháp hóa việc khai thác giáo trình, bài giảng, khóa học trực tuyến từ các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước. Với lĩnh vực công nghệ thông tin và an toàn thông tin – nơi tri thức thay đổi theo chu kỳ ngắn – đây là kênh cập nhật nhanh hơn đáng kể so với quy trình biên soạn, thẩm định giáo trình truyền thống, đặc biệt với các chủ đề mới như mật mã hậu lượng tử, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong bảo mật, bảo mật hệ thống phân tán.
3.2. Ghi nhận học liệu số như một sản phẩm học thuật
Theo khoản 1 Điều 11, tài nguyên giáo dục mở đã được thẩm định và công bố hợp lệ có thể được xem xét công nhận là sản phẩm học thuật trong đánh giá, xếp loại và phát triển đội ngũ giảng viên. Đây là một kênh tích lũy thành tích chuyên môn mới, bên cạnh công bố khoa học truyền thống, có ý nghĩa thiết thực với đội ngũ giảng viên trẻ và với công tác thi đua – khen thưởng. Nhiều bài giảng, tài liệu nội bộ đã tồn tại sẵn tại Học viện có thể được chuẩn hóa, thẩm định và chuyển thành tài sản học thuật được ghi nhận chính thức.
3.3. Nâng cao vị thế và độ hiện diện học thuật
Việc kết nối nền tảng của Học viện với Cổng truy cập tài nguyên giáo dục mở quốc gia (khoản 2 Điều 11) tạo ra một kênh hiện diện học thuật ở phạm vi toàn quốc. Với một cơ sở đào tạo đặc thù, thường ít xuất hiện trong không gian học thuật công khai như các trường đa ngành, đây là cơ hội giới thiệu năng lực đào tạo và nghiên cứu ở phần nội dung được phép công bố, qua đó hỗ trợ công tác tuyển sinh, hợp tác trong nước và quốc tế.
3.4. Đóng góp vào kho tri thức an toàn thông tin bằng tiếng Việt
Khoản 3 Điều 4 xác lập nguyên tắc ưu tiên tài nguyên bằng tiếng Việt. Học liệu chuyên ngành an toàn thông tin, an ninh mạng bằng tiếng Việt hiện còn thiếu hụt rõ rệt so với tiếng Anh. Đây là khoảng trống mà Học viện có lợi thế chuyên môn để lấp đầy, đồng thời là cách khẳng định vai trò dẫn dắt học thuật trong lĩnh vực của mình.
3.5. Tối ưu hóa phân bổ nguồn lực biên soạn
Khi tài nguyên mở đảm nhận vai trò học liệu tham khảo và bổ trợ cho khối đại cương, cơ sở ngành, nguồn lực nội bộ có thể được tập trung cho việc biên soạn các học phần chuyên sâu, đặc thù – nơi không thể và không nên trông cậy vào nguồn bên ngoài.
3.6. Giảm rủi ro pháp lý về quyền tác giả
Điều 6 và Điều 8 thiết lập chuẩn mực rõ ràng về kiểm tra tính hợp lệ của giấy phép, ghi nhận tác giả, trích dẫn và phạm vi sử dụng. Việc nội bộ hóa các chuẩn mực này giúp Học viện giảm thiểu rủi ro vi phạm quyền tác giả phát sinh từ thực tiễn sử dụng tài liệu nước ngoài trong giảng dạy.
3.7. Cơ sở pháp lý cho đầu tư hạ tầng chuyển đổi số
Khoản 4 Điều 11 quy định cơ sở đào tạo bảo đảm nguồn lực tài chính, ưu tiên đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ phát triển tài nguyên giáo dục mở. Đây là căn cứ pháp lý thuận lợi khi Học viện xây dựng đề án đầu tư nền tảng học liệu số, thư viện số, hệ thống quản lý học tập.
4. Các thách thức
4.1. Bài toán trung tâm: ranh giới giữa "mở" và "bảo mật"
Đây là thách thức đặc thù và khó nhất đối với Học viện. Khoản 6 Điều 4 tạo áp lực chính sách theo hướng công bố mở đối với sản phẩm hình thành từ ngân sách nhà nước, trong khi khoản 5 Điều 5 nghiêm cấm công bố nội dung thuộc bí mật nhà nước hoặc liên quan quốc phòng, an ninh quốc gia. Hai điều khoản này không xung đột về mặt pháp lý, nhưng việc xác định chính xác một tài liệu cụ thể thuộc bên nào của ranh giới là công việc đòi hỏi chuyên môn kép: vừa về học thuật, vừa về bảo vệ bí mật nhà nước.
Rủi ro thực tế cần lưu ý: nguy cơ lộ lọt do tích hợp – từng tài liệu riêng lẻ có thể không thuộc diện mật, nhưng khi được công bố đồng thời, có hệ thống trên một nền tảng liên thông toàn quốc, tổng thể có thể để lộ thông tin về chương trình, phương pháp hoặc định hướng nghiệp vụ. Đây là loại rủi ro mà quy trình rà soát theo từng tài liệu đơn lẻ khó phát hiện.
4.2. Yêu cầu về hội đồng thẩm định có thành viên ngoài đơn vị
Điểm c khoản 1 Điều 7 yêu cầu quy định về cơ cấu hội đồng thẩm định bao gồm thành viên trong và ngoài cơ sở đào tạo, nhằm bảo đảm tính độc lập, khách quan. Với Học viện, việc mời chuyên gia bên ngoài tham gia thẩm định học liệu đặt ra yêu cầu bổ sung về quy trình xét chọn, cam kết bảo mật và giới hạn phạm vi tài liệu được tiếp cận. Cần thiết kế cơ chế phân tầng hội đồng theo mức độ nhạy cảm của tài nguyên.
4.3. Khối lượng công việc ban hành văn bản nội bộ trong thời gian ngắn
Điều 7 đặt ra tối thiểu ba nhóm quy định nội bộ mà người đứng đầu cơ sở đào tạo phải ban hành: quy trình kiểm soát chất lượng và thẩm định; yêu cầu kỹ thuật về lưu trữ, chia sẻ trên nền tảng; và quy định về sử dụng tài nguyên cho học phần, chứng chỉ, chương trình đào tạo, kiểm tra đánh giá, công nhận và chuyển đổi tín chỉ. Thông tư có hiệu lực từ 01/9/2026, đồng nghĩa với việc quỹ thời gian chuẩn bị rất hạn hẹp so với khối lượng công việc soạn thảo, lấy ý kiến và phê duyệt.
4.4. Yêu cầu kỹ thuật về liên thông và an toàn thông tin đồng thời
Học viện phải xây dựng nền tảng có khả năng kết nối, liên thông với Cổng quốc gia, tích hợp với hệ thống quản lý học tập, thư viện số theo chuẩn dữ liệu đặc tả do Bộ ban hành (khoản 2 Điều 12). Đồng thời phải bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu và tính bền vững hạ tầng (khoản 4 Điều 4). Với một cơ sở đào tạo trong lĩnh vực an toàn thông tin, tiêu chuẩn tự đặt ra cho chính hệ thống của mình tất yếu phải cao hơn mức trung bình, kéo theo yêu cầu về kiến trúc phân vùng mạng, kiểm soát truy cập và giám sát an ninh.
4.5. Chuẩn dữ liệu đặc tả chưa được ban hành
Khoản 2 Điều 12 giao Bộ GD&ĐT ban hành chuẩn dữ liệu đặc tả, nhưng Thông tư không ấn định thời hạn. Điều này tạo ra khoảng bất định: nếu Học viện triển khai hạ tầng trước khi chuẩn được công bố, có nguy cơ phải điều chỉnh hoặc chuyển đổi dữ liệu về sau. Cần chiến lược đầu tư theo hướng linh hoạt, tách biệt lớp lưu trữ nội dung khỏi lớp siêu dữ liệu.
4.6. Yêu cầu mới về minh bạch nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra
Điểm d khoản 3 Điều 8 quy định: trường hợp tài nguyên có sử dụng nội dung được tạo ra bởi trí tuệ nhân tạo, phải bảo đảm tính minh bạch theo quy định pháp luật hiện hành. Đây là nghĩa vụ mới, đòi hỏi Học viện bổ sung quy định nội bộ về khai báo, ghi nhận việc sử dụng AI trong biên soạn học liệu, đồng thời gắn với các quy định về liêm chính học thuật.
4.7. Năng lực của đội ngũ về giấy phép mở và bản quyền
Các loại giấy phép mở, phạm vi quyền theo từng loại, cách xử lý tài nguyên tích hợp nhiều loại giấy phép khác nhau (khoản 6 Điều 6) là kiến thức chưa phổ biến trong đội ngũ giảng viên nói chung. Thiếu năng lực này dẫn tới hai rủi ro đối lập: hoặc vi phạm phạm vi giấy phép, hoặc e dè không dám khai thác dù được phép.
4.8. Chi phí duy trì và chu kỳ rà soát
Điểm đ khoản 1 Điều 7 yêu cầu quy định chu kỳ rà soát, cập nhật định kỳ, cải tiến chất lượng và gỡ bỏ học liệu không đáp ứng yêu cầu. Đây là nghĩa vụ thường xuyên, không phải công việc một lần, đòi hỏi phân công đầu mối và nguồn lực duy trì ổn định.
5. Phương hướng hành động đề xuất
5.1. Giai đoạn cấp bách – trước ngày 01/9/2026
- Thành lập Ban chỉ đạo hoặc Tổ công tác triển khai Thông tư 61, do lãnh đạo Học viện trực tiếp phụ trách, với thành phần liên ngành: đào tạo, khoa học công nghệ, thông tin – thư viện, công nghệ thông tin, và bộ phận phụ trách bảo vệ bí mật nhà nước. Thành phần cuối cùng là điểm không thể thiếu và tạo nên sự khác biệt so với các trường thông thường.
- Rà soát, kiểm kê hiện trạng học liệu: xây dựng danh mục toàn bộ giáo trình, bài giảng, tài liệu số hiện có; đối chiếu với hạ tầng nền tảng, thư viện số, hệ thống quản lý học tập đang vận hành để xác định khoảng cách so với yêu cầu của Thông tư.
- Ban hành Bộ tiêu chí phân loại mức độ mở của học liệu – văn bản nền tảng cho mọi bước tiếp theo. Đề xuất phân bốn cấp: Mở hoàn toàn (công bố ra Cổng quốc gia); Mở có điều kiện (chia sẻ trong cộng đồng học thuật, có xác thực người dùng); Nội bộ (chỉ trong Học viện); Hạn chế/Mật (không đưa lên nền tảng số mở, quản lý theo quy định về bảo vệ bí mật nhà nước). Kèm theo là tiêu chí nhận diện và thẩm quyền quyết định cho từng cấp.
- Soạn thảo và ban hành ba nhóm quy định nội bộ theo Điều 7: quy trình – tiêu chí – thẩm quyền thẩm định; yêu cầu kỹ thuật nền tảng; quy định sử dụng trong đào tạo, kiểm tra đánh giá và chuyển đổi tín chỉ.
- Thiết lập quy trình rà soát bảo mật hai lớp: lớp một – thẩm định học thuật; lớp hai – rà soát bảo mật độc lập trước khi công bố. Bổ sung khâu đánh giá rủi ro tổng thể theo cụm tài liệu, không chỉ theo từng tài liệu riêng lẻ, để xử lý nguy cơ lộ lọt do tích hợp nêu ở mục 4.1.
5.2. Giai đoạn ngắn hạn – năm học 2026–2027
- Triển khai thí điểm có kiểm soát: chọn 5–10 học phần thuộc khối đại cương và cơ sở ngành để chạy trọn vòng quy trình, từ lựa chọn – thẩm định – công bố – thu thập phản hồi. Thí điểm ở khu vực rủi ro thấp nhất giúp hoàn thiện quy trình trước khi mở rộng.
- Tổ chức bồi dưỡng đội ngũ theo khoản 3 Điều 11: nội dung về các loại giấy phép mở, quy tắc trích dẫn và ghi nhận tác giả, xử lý tài nguyên đa giấy phép, minh bạch trong sử dụng AI, liêm chính học thuật. Phân tầng theo đối tượng: giảng viên, cán bộ thư viện, cán bộ quản lý, người học.
- Đầu tư hạ tầng theo lộ trình linh hoạt: nâng cấp nền tảng học liệu số theo kiến trúc tách lớp nội dung và lớp siêu dữ liệu, phân vùng rõ giữa vùng công khai và vùng nội bộ, sẵn sàng thích ứng khi chuẩn dữ liệu đặc tả của Bộ được ban hành.
- Ban hành cơ chế khuyến khích theo khoản 1 Điều 11: sửa đổi quy định thi đua – khen thưởng và quy định đánh giá giảng viên để công nhận học liệu mở đã thẩm định là sản phẩm học thuật, kèm định mức giờ hoặc hình thức ghi nhận cụ thể.
- Thiết lập kênh phản hồi và đánh giá của người sử dụng theo điểm d khoản 1 Điều 7, gắn với cơ chế đồng phát triển học liệu từ cộng đồng học thuật.
5.3. Giai đoạn trung hạn – từ 2027
- Xây dựng bộ học liệu mở thương hiệu Học viện về an toàn thông tin và an ninh mạng bằng tiếng Việt ở mức kiến thức nền tảng – vừa phục vụ đào tạo, vừa khẳng định vai trò dẫn dắt học thuật, vừa hỗ trợ tuyển sinh.
- Kết nối chính thức với Cổng truy cập tài nguyên giáo dục mở quốc gia đối với phần tài nguyên đã được phân loại "Mở hoàn toàn".
- Mở rộng hợp tác theo khoản 5 Điều 11: liên kết với các cơ sở đào tạo cùng lĩnh vực, doanh nghiệp công nghệ, nhà xuất bản trong việc chuẩn hóa dữ liệu học liệu và cung ứng công cụ quản trị bản quyền.
- Vận hành chu kỳ rà soát – cập nhật – gỡ bỏ định kỳ, gắn với báo cáo thường niên về hoạt động tài nguyên giáo dục mở, thực hiện trách nhiệm giải trình theo khoản 6 Điều 11.
6. Kết luận
Thông tư 61/2026/TT-BGDĐT không đặt Học viện Kỹ thuật mật mã vào tình thế phải lựa chọn giữa tuân thủ chính sách mở và bảo vệ yêu cầu bảo mật. Bản thân văn bản đã dự liệu các ngoại lệ cần thiết cho cơ sở đào tạo có tính đặc thù về quốc phòng, an ninh. Thách thức thực chất không nằm ở xung đột pháp lý, mà nằm ở năng lực phân loại và quản trị ranh giới – khả năng xác định chính xác đâu là tri thức nên và cần được chia sẻ, đâu là nội dung phải được bảo vệ.
Nếu xây dựng được bộ tiêu chí phân loại minh bạch cùng quy trình rà soát hai lớp chặt chẽ ngay từ đầu, Học viện có thể khai thác đầy đủ các lợi ích về học liệu, ghi nhận học thuật, vị thế và hạ tầng số mà Thông tư mang lại, đồng thời giữ vững nguyên tắc bảo mật đặc thù. Ngược lại, cách tiếp cận e dè theo hướng đóng toàn diện sẽ khiến Học viện bỏ qua cơ hội hiện đại hóa học liệu và hiện diện học thuật, mà cũng không làm tăng thêm mức độ an toàn thực chất.
Với thời hạn hiệu lực 01/9/2026, việc thành lập tổ công tác và khởi động rà soát hiện trạng nên được xem là công việc cần triển khai ngay.
Tài liệu tham khảo
- Thông tư 61/2026/TT-BGDĐT ngày 17/7/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong hoạt động giáo dục đại học.
- Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15.
- Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 123/2025/QH15.
- Nghị định số 279/2026/NĐ-CP ngày 12/7/2026 của Chính phủ.